Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất

Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất
Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất

Sau đây mình sẽ giới thiệu đến cho các bạn một bài Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất là một trong những đề tài tiểu luận triết học hoàn toàn hay mà các bạn nên xem và theo dõi. Nguồn tài liệu mình đã tiến hành triển khai như là lời mở đầu tiểu luận triết học quy luật quan hệ sản xuất,nội dung tiểu luận triết học quy luật quan hệ sản xuất, và cuối cùng là kết luận tiểu luận triết học quy luật quan hệ sản xuất… Hy vọng nguồn tài liệu mình sắp triển khai sau đây sẽ cung cấp được cho các bạn thêm nhiều kiến thức để có thể nhanh chóng hoàn thành bài tiểu luận của mình. 

Ngoài ra, hiện nay bên mình có nhận viết thuê tiểu luận với đa dạng đề tài điểm cao và chất lượng, nếu như bạn đang có nhu cầu cần viết một bài tiểu luận thì đừng đắn đo suy nghĩ mà thay vào đó là nhanh chóng tìm đến dịch vụ làm tiểu luận thuê chất lượng của chúng tôi qua zalo/telegram : 0932.091.562 để được tư vấn báo giá và hỗ trợ nhanh nhất có thể nhé.

Lời mở đầu Tiểu Luận Triết Học Quy luật quan hệ sản xuất

1. Lý do chọn đề tài

Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã được C.Mác và Ph.Ăngghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây cũng chính là quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Quy luật này đã được trình bày trong nhiều tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen. Như trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845-1846) C.Mác viết (8/1846): “Tôi thấy rằng, điều hết sức quan trọng là trước khi tôi trình bày vấn đề một cách chính diện thì cần phải có một tác phẩm luận chiến chống lại nền triết học Đức và chống lại chủ nghĩa xã hội Đức (…) Điều đó là cần thiết để chuẩn bị cho công chúng tiếp thu quan điểm của tôi trong lĩnh vực kinh tế – chính trị, quan điểm này trực tiếp đối lập với khoa học Đức”[1]. Ngoài ra còn được trình bày trong tác phẩm: Sự khốn cùng của triết học, Lời tựa cuốn,..những tác phẩm này đã góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị và Bộ tư bản.

XEM THÊM : Viết Thuê Tiểu Luận

Quy luật này đã được V.Lênin vận dụng sáng tạo trong giai đoạn đầu sau cách mạng tháng Mười Nga 1917 và chủ yếu là trong “Chính sách kinh tế mới (NEP) năm 1921”. Trong quá trình phát triển đất nước Việt Nam, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo quy luật này trong điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nhờ có những nhận thức đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã góp phần quan trọng cho Đảng ta trong việc đề ra những đường lối và chính sách đúng đắn đối với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh,..của đất nước.

Do vậy muốn đất nước được bền vững chúng ta cần tìm hiểu, nắm bắt và vận dụng quy luật này. Chính những lý do trên mà em đã chọn đề tài: “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và vận dụng đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay” để làm tiểu luận.

2. Ý nghĩa của đề tài Tiểu Luận Triết Học Quy luật quan hệ sản xuất

Đề tài: Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất  có ý nghĩa hết sức quan trọng đặc biệt là trong tình hình thực tế của nước ta hiện nay. Nhằm phát huy mọi tiềm năng các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, từng bước xã hội hóa xã hội chủ nghĩa. Trong đó kinh tế quốc doanh bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay. Từng bước đi của chúng ta đều phải dựa vào quy luật này. Mỗi chúng ta cần phải nắm rõ về quy luật này mới có thể giúp cho đất nước phát triển nên tầm cao mới.

3. Khái quát nội dung cần giải quyết trong đề tài Tiểu Luận Triết Học Quy luật quan hệ sản xuất

Những vấn đề cần giải quyết:

– Nội dung quy luật quan hệ sản xuất về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

– Vận dụng quy luật đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay.

XEM THÊM : Bài Tiểu Luận Thu Hoạch Môn Triết Học Phương Tây

Nội Dung Tiểu Luận Triết Học Quy luật quan hệ sản xuất

1. Nội dung quy luật

1.1. Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình thành trong quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất gồm có tư liệu sản xuất và người lao động. Có thể nói lực lượng sản xuất là tất cả các nhân tố vật chất, kĩ thuật cần thiết để tiến hành một quá trình sản xuất nào đó trong đó người lao động giữ vai trò nhân tố cơ bản và quyết định.

Lịch sử loài người được đánh dấu bởi các mốc quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất trước hết là công cụ lao động. Sự xuất hiện của công cụ lao động đã đánh dấu một bước ngoặc trong sự chuyển từ vượn thành người. Từ săn bắt hái lượm sang hoạt động lao động thích nghi và cải tạo tự nhiên. Từ sản xuất nông nghiệp, công nghệ lạc hậu lên cơ khí hoá sản xuất. Sự phát triển của lực lượng lao động sản xuất trong giai đoạn này không những giúp tăng đáng kể số lượng các công cụ đã có mà còn tạo ra những công cụ mới sử dụng cơ bắp con người. Nhờ đó, con người đã chuyển một phần công việc nặng nhọc cho máy móc có điều kiện để phát huy các năng lực khác của mình.

Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Tuy nhiên, trong lịch sử sẽ không tồn tại một hình thức sản xuất vật chất nào mà không có nhân tố con người. Trong nghiên cứu của C.Mác về lịch sử – xã hội là hoạt động sản xuất vật chất của con người hiện thực, C.Mácvà Ph.Ăngghen đã viết: “Bản thân con người bắt đầu được phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt…” [2]. Con người là nhân tố quyết định của nền sản xuất xã hội. Sản xuất là để tiêu dùng, không có tiêu dùng thì cũng không có sản xuất. Nhất là trong điều kiện ngày nay, khi công cuộc Cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ thì con người là nhân tố quyết định. Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội phải là người có sức mạnh, kĩ năng lao động , tri thức khoa học, tri thức công nghệ và cả tính nhân văn.

1.2. Quan hệ sản xuất

Trong quá trình sản xuất con người cần phải có mối quan hệ xã hội với nhau. Tổng thể các mối quan hệ đó được gọi là mối quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất là toàn bộ những quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội: sản xuất phân phối trao đổi – tiêu dùng.

Tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ nó tồn tại khách quan độc lập hoàn toàn với ý thức của con người. C.Mác đã chỉ ra rằng: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ”. Những quan hệ sản xuất này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Vì vậy mà con người không thể tuỳ tiện lựa chọn quan hệ sản xuất riêng cho mình bởi chúng luôn là kết quả phát triển tất yếu khách quan của một lực lượng sản xuất hiện có tương ứng với nó.

XEM THÊM : Đề Tài Tiểu Luận Môn Triết Học Và Bài Mẫu

1.3. Quy luật quan hệ sản xuất về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội. Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ mang tính chất biện chứng.

Khuynh hướng của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển. Sự phát triển là sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất và trước hết là công cụ sản xuất. Do vậy mà lực lượng sản xuất chính là yếu tố quyết định đối với sự biến đổi của phương thức sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người. Sự tiến bộ của công cụ, khoa học, trình độ kỹ thuật của người lao động cũng ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất. Nghĩa là trạng thái mà ở đó các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất “tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển”. Như vậy, trong trạng thái phù hợp của quan hệ sản xuất đạt tới thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư liệu sản xuất. Với trạng thái phù hợp như vậy thì lực lượng sản xuất sẽ có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.

Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động đối với lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, phương thức phân phối và phần của cải mà người lao động được hưởng. Do đó nó ảnh hưởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động – lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao động.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định sẽ dẫn tới mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, thay thế cho trạng thái phù hợp, khi tới một giai đoạn nào đó lực lượng sản xuất phát triển chuyển sang một trình độ mới với tính chất xã hội hoá ở mức cao hơn thì tình trạng phù hợp sẽ bị phá vỡ. Mâu thuẫn sẽ ngày càng gay gắt và đến một lúc nào đó quan hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất”. Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến việc “xã hội phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới để phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi, giúp cho lực lượng sản xuất phát triển”. Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và thay thế bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là sự chấm dứt của phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của phương thức sản xuất mới.

C.Mác đã chỉ rõ rằng: “Trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ – tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ”. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội và phương thức sản xuất đời sống vật chất sẽ quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần. Không phải “ý thức của con người quyết định tồn tại của họ” mà trái lại “tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”. Và C.Mác đã nhận định: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có – trong đó từ trước đến nay lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách mạng xã hội”. Đó là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.

  1. Vận dụng quy luật

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là cơ sở để giải thích về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ các hiện tượng xã hội, sự biến đổi trong đời sống chính trị vì vậy việc vận dụng quy luật này trong việc xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội đất nước là vô cùng hợp lý, tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng vận dụng quy luật này một cách hiệu quả. Và Đảng ta đã có một quá trình nghiên cứu, vận dụng sáng tạo quy luật này qua từng giai đoạn thực tế khác nhau để đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Giai đoạn 1954 đến 1975, do chưa có kinh nghiệm trong xây dựng Chủ nghĩa xã hội nên trong giai đoạn này chúng ta đã cải tạo quan hệ sản xuất Xã hội chủ nghĩa theo mô hình Liên Xô cho kinh tế miền Bắc trong khi trình độ lực lượng sản xuất không đáp ứng được nhu cầu cao đó nên không thúc đẩy năng suất lao động phát triển.

Giai đoạn 1975 đến 1986, việc áp dụng mô hình kinh tế nhiều thành phần cho cả nước ngày càng đi vào khủng hoảng trầm trọng, đưa đất nước rơi vào tình trạng khó khăn, suy cho cùng nguyên nhân chính là việc xác lập “quan hệ sản xuất” vượt quá xa trình độ phát triển lực lượng sản xuất, không phù hợp với thực tiễn đất nước trong thời bình.

Đại hội lần thứ VI của Đảng là dấu mốc quan trọng đánh dấu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có sự đổi mới nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Đại hội lần thứ VII (1991) đánh giá trong 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, bước đầu đạt một số thành tựu đáng kể, đặc biệt, về đổi mới kinh tế. So với Đại hội VI, tại Đại hội VII, Đảng ta lại có bước tiến mới trong nhận thức về con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội, mặc dù còn có những khuyết điểm.

Đại hội lần thứ VIII (1996), dựa trên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, Đảng ta đã xác định nước ta có 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Có thể thấy công cuộc đổi mới 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đại hội lần thứ IX kế thừa thành quả của công cuộc đổi mới, tiếp tục cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất Xã hội chủ nghĩa. Đảng ta tiếp tục bổ sung thêm một thành phần kinh tế trong hệ thống cơ cấu kinh tế của nước ta, đó là “kinh tế có vốn đầu tư ở nước ngoài”, việc tồn tại thành phần kinh tế này là tất yếu cho sự phát triển theo thực tế khách quan tình hình Việt Nam. Trong đường lối phát triển kinh tế và xã hội, Đảng khẳng định: “Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa…”.Về quan hệ sản xuất, Đảng khẳng định: “Chủ trương thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.

Đại hội lần thứ XI (2011) tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, đã bổ sung và phát triển Cương lĩnh 1991, xác định được 3 đột phá chiến lược: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ”. Đại hội đã bổ sung nhận thức và làm rõ hơn khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Đại hội lần thứ XII, tổng kết qua 30 năm đổi mới, Đảng ta đã phân tích rõ ràng về mối quan hệ lớn này: “Trong tiến trình đổi mới kinh tế…,kịp thời điều chỉnh các mặt cấu thành quan hệ sản xuất, đặc biệt là quan hệ sở hữu, các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế để đảm bảo sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất”. Giải quyết tốt mối quan hệ này cũng như 7 mối quan hệ còn lại góp phần thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Qua đó, khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Đảng đã có bước tiến lớn về nhận thức trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, tuân thủ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất, nhận thức rõ ràng hơn về vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế.

Đại hội lần thứ XIII (2021) diễn ra dưới sự tác động của cuộc Cách mạng Khoa học Công nghệ lần thứ tư và ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đưa đến những thời cơ và thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội nước ta. Kế thừa và phát triển từ 12 kỳ Đại hội cùng với 35 năm đổi mới, Đảng ta vẫn giữ vững đường lối và quyết tâm vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đảng khẳng định: “Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”. Nhận thức đúng đắn quy luật này, sẽ góp phần thực hiện được “khát vọng phát triển Việt Nam” phấn đấu Việt Nam trở thành một nước công nghiệp phát triển.

Có thể thấy, Đảng đã có những nhận thức đúng đắn về tác động của quy luật trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, từ đó xác định rõ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để không ngừng hoàn thiện những chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật hoàn thiện quan hệ sản xuất. Cùng với những thành tựu to lớn đã đạt được trong việc vận dụng sáng tạo quy luật thì vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế, những khó khăn thách thức đòi hỏi Đảng và nhà nước Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu và vận dụng quy luật để hoàn thiện chủ trương, đưa ra các chính sách giúp phát triển nền kinh tế Việt Nam trong những chặng đường tiếp theo.

Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất
Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất

Kết Luận Tiểu Luận Triết Học Quy luật quan hệ sản xuất

Quy luật về mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được C.Mác đã được vận dụng và phát triển thực tế trong Cách mạng và trong nhận thức khoa học. Qua đó có thể thấy rõ từ sản xuất nhỏ đi lên Chủ nghĩa xã hội chúng ta vẫn phải tuân theo quy luật của C.Mác. Có thể kết luận rằng: “Các dân tộc các quốc gia có thể bỏ qua hoặc rút ngắn một giai đoạn lịch sử của mình nhưng không thể bỏ qua được quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”.

Thực tế cho thấy, trong quá trình Đảng ta xây dựng Xã hội chủ nghĩa, do quá nóng vội và chủ quan duy ý chí mà đã vấp phải một số sai lầm khi đưa quan hệ sản xuất tiến lên quá xa. Nhưng Đảng và nhà nước đã sớm nhận ra sai lầm và hành động sửa chữa kịp thời mà trong đó có yêu cầu đặt ra là: “phải đưa quan hệ sản xuất trở về phù hợp với lực lượng sản xuất”. Đồng thời Đảng và nhà nước Việt Nam đã không ngừng tìm cách phát triển lực lượng sản xuất bằng cách: “Đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển công cụ sản xuất; đẩy mạnh nâng cao, mở rộng hệ thống giáo dục đào tạo phát triển người lao động – nhân tổ đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất xã hội”.

Có thể khẳng định quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật kinh tế cơ bản, phổ biến, nó chi phối mọi phương thức sản xuất và không loại trừ một quốc gia dân tộc nào. Điều đó, đòi hỏi chúng ta muốn phát triển kinh tế đất nước thì phải nhận thức đúng để hành động phù hợp với quy luật khách quan. Đối với sinh viên là chủ nhân tương lai của đất nước, là một trong những người có trách nhiệm tạo việc làm và sử dụng lực lượng lao động để tạo ra của cải vật chất sau này thì việc nâng cao tri thức và nhận thức là vô cùng quan trọng. Chỉ khi có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của bản thân thì người sinh viên mới thực sự xác định được phương hướng học tập đúng đắn, từ đó chủ động nghiên cứu tìm tòi và tạo được hứng thú học tập cho mình. Chỉ khi tầng lớp trí thức phát triển mạnh mẽ, có nhận thức, trách nhiệm và hướng đi đúng đắn mới là điều tất yếu để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện nay ở nước ta.

Tiểu Luận Triết Học Quy Luật Quan Hệ Sản Xuất Phù Hợp Với Trình Độ Phát Triển Của Lực Lượng Sản Xuất là một trong những đề tài tiểu luận hoàn toàn xuất sắc mà mình đã triển khai đến cho các bạn. Chúc các bạn xem được bài viết này của mình sẽ nhanh chóng hoàn thành bài tiểu luận tốt nhất có thể, nếu như nguồn tài liệu mình đã triển khai chưa đủ để làm hài lòng bạn thì ngay bây giờ đây hãy liên hệ ngay đến dịch vụ viết thuê tiểu luận qua zalo/telegram : 0932.091.562 chúng tôi sẽ tư vấn báo giá làm bài tiểu luận và hỗ trợ lựa chọn cho các bạn một đề tài phù hợp nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

[1] C.Mác, Ph.Ăngghen (1995), Hệ tư tưởng Đức, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.27, tr.398 – 399

[2] C.Mac, Ph.Ăng-ghen (1980) tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, tập 1, trang 268.