Sáng kiến kinh nghiệm: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1

xây dựng trò chơi học vần cho học sinh lớp 1
xây dựng trò chơi học vần cho học sinh lớp 1

Tải miễn phí bài Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1, các bạn có thể tải về kham khảo miễn phí, đây là đề tài tiểu luận môn Sáng kiến kinh nghiệm được giới thiệu cho các bạn sinh viên đang tìm kiếm tài liệu, ngoài ra các bạn có thể kham khảo thêm các bài tiểu luận về Xây dựng trò chơi và tiểu luận về Học vần cho học sinh lớp 1 trên chuyên mục tiểu luận Sáng kiến kinh nghiệm.

Lưu ý: Trong quá trình viết tiểu luận Môn Sáng kiến kinh nghiệm nếu các bạn không có thời gian và cần hỗ trợ viết bài hoàn chỉnh, chất lượng tốt, các bạn có thể liên hệ với dịch vụ viết tiểu luận chất lượng qua Zalo: https://zalo.me/0932091562


CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TRÒ CHƠI HỌC VẦN CHO HỌC SINH LỚP 1

 I.     CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN LỚP 1

  1. Mục tiêu của việc dạy học phân môn Học vần (Sáng kiến kinh nghiệm: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

Mục tiêu cao nhất của việc dạy học Tiếng Việt là rèn cho học sinh (HS) bốn kĩ năng sử dụng tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết thông qua bảy phân môn: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện. Trong đó, Học vần là phân môn khởi đầu giúp HS chiếm lĩnh và làm chủ một công cụ mới để sử dụng trong học tập và giao tiếp. Đó chính là chữ viết – phương tiện có ưu thế nhất trong giao tiếp của loài người. Vì vậy, có thể nói, Học vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong môn Tiếng Việt ở tiểu học.

          Mục tiêu dạy học Học vần cũng như các phân môn khác là rèn luyện bốn kĩ năng cho HS là nghe, nói, đọc, viết. Tuy nhiên, kĩ năng nghe và nói đã khá quen thuộc với HS, kĩ năng đọc và viết còn nhiều mới lạ, không phải HS nào cũng được làm quen trước khi bước vào lớp 1. Bởi vậy, theo quan điểm hiện hành, mục tiêu đặc biệt cần đạt tới của phân môn Học vần  là dạy chữ, tức là làm thế nào để HS biết đọc, biết viết một cách nhanh nhất. Việc chú trọng mục tiêu dạy chữ được thể hiện ở những điểm sau:

        Một là, sách cung cấp vừa đủ lượng con chữ để thể hiện các đơn vị âm thanh và ghép các con chữ này thành các tiếng có thực trong tiếng Việt văn hoá.

           Hai là, hệ thống chữ được đưa vào bài học theo đặc điểm chữ viết và theo nguyên tắc đi từ chữ cái cấu tạo đơn giản đến chữ cái có cấu tạo phức tạp dần.

          Ba là, những khác biệt thể hiện trên chữ viết đều được lấy làm căn cứ để xây dựng bài học.

          Với mỗi đơn vị chữ, sách giáo khoa (SGK) đều giới thiệu một tiếng thực làm tiếng khoá cho nó. Qua việc nhận diện tiếng, HS hiểu được các âm mà chữ thể hiện đồng thời biết được các âm, các tiếng đó được đọc như thế nào. Điều này đảm bảo việc dạy chữ và dạy âm được tiến hành song song với nhau.(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

  1. Nội dung, chương trình phân môn Học vần

          Trong chương trình môn Tiếng Việt 1, phân môn Học vần được giảng dạy trong vòng 21 tuần, mỗi tuần dạy 5 bài. Mỗi bài được dạy trong 2 tiết, thời lượng mỗi tiết dạy là 35 phút, giữa hai tiết có 5 phút nghỉ giải lao.

          Nội dung của phân môn Học vần gồm hai phần. Phần một dạy về hệ thống âm, chữ ghi âm và thanh điệu bao gồm 28 bài đầu. Phần hai dạy về hệ thống vần, gồm 75 bài tiếp theo.

          Nội dung cụ thể các bài học Học vần trong SGK như sau:

  • Các bài học giới thiệu âm, chữ ghi âm, thanh điệu:

Bài 1: e                                                    

Bài 2: b

Bài 3: /

Bài 4: ? , .

Bài 5: \ , ~

Bài 6: be, bè, bé, bẻ, bẽ, bẹ

Bài 7: ê, v

Bài 8: l, h

Bài 9: o, c

Bài 10: ô, ơ

Bài 11: Ôn tập

Bài 12: i, a

Bài 13: n, m

Bài 14: d, đ

Bài 15: t, th

Bài 16: Ôn tập

Bài 17: u, ư

Bài 18: x, ch

Bài 19: s, r

Bài 20: k, kh

Bài 21: Ôn tập

Bài 22: p – ph, nh

Bài 23: g, gh

Bài 24: q – qu, gi

Bài 25: ng, ngh

Bài 26: y, tr

Bài 27: Ôn tập

Bài 28: Chữ thường, chữ hoa

XEM THÊM ==> DỊCH VỤ VIẾT THUÊ TIỂU LUẬN

  • Các bài học giới thiệu vần:(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

Bài 29: ia

Bài 30: ua, ưa

Bài 31: Ôn tập

Bài 32: oi, ai

Bài 33: ôi, ơi

Bài 34: ui, ưi

Bài 35: uôi, ươi

Bài 36: ay, â – ây

Bài 37: Ôn tập

Bài 38: eo, ao

Bài 39: au, âu

Bài 40: iu, êu

Bà 41: iêu, yêu

Bài 42: ưu, ươu

Bài 43: Ôn tập

Bài 44: on, an

Bài 45: ân, ă – ăn

Bài 46: ôn, ơn

Bài 47: en, ên

Bài 48: in, un

Bài 49: iên, yên

Bài 50: uôn, ươn

Bài 51: Ôn tập

Bài 52: ong, ông

Bài 53: ăng, âng

Bài 54: ung, ưng

Bài 55: eng, iêng

Bài 56: uông, ương

Bài 57: ang, anh

Bài 58: inh, ênh

Bài 59: Ôn tập

Bài 60: om, am

Bài 61: ăm, âm

Bài 62: ôm, ơm

Bài 63: em, êm

Bài 64: im, um

Bài 65: iêm, yêm

Bài 66: uôm, ươm

Bài 67: Ôn tập

Bài 68: ot, at

Bài 69: ăt, ât

Bài 70: ôt, ơt

Bài 71: et, êt

Bài 72: ut, ưt

Bài 73: it, iêt

Bài 74: uôt, ươt

Bài 75: Ôn tập

Bài 76: oc, ac

 

Bài 77: ăc, âc

Bài 78: uc, ưc

Bài 79: ôc, uôc

Bài 80: iêc, ươc

Bài 81: ach

Bài 82: ich, êch

Bài 83: Ôn tập

Bài 84: op, ap

Bài 85: ăp, âp

Bài 86: ôp, ơp

Bài 87: ep, êp

Bài 88: ip, up

Bài 89: iêp, ươp

Bài 90: Ôn tập

Bài 91: oa, oe

Bài 92: oai, oay

Bài 93: oan, oăn

Bài 94: oang, oăng

Bài 95: oanh, oach

Bài 96: oat, oăt

Bài 97: Ôn tập

Bài 98: uê, uy

Bài 99: uơ, uya

Bài 100: uân, uyên

Bài 101: uât, uyêt

Bài 102: uynh, uych

Bài 103: Ôn tập(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

II.                  ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ HSTH

  1. Đặc điểm nhận thức
    • Tri giác

          Tri giác của HSTH nói chung và của HS lớp 1 nói riêng gắn liền với hành động và hoạt động thực tiễn, mang nặng tính cảm xúc. HS lớp 1 hình thành hoạt động quan sát, nhờ đó mà tri giác của các em có mục đích.

          Trò chơi là một dạng hoạt động thực hành thú vị, hấp dẫn, nó có thể kích thích tri giác của HS. Do vậy, khi tổ chức trò chơi, GV cần hướng dẫn HS quan sát (có thể sử dụng tranh hướng dẫn, ví dụ mẫu, GV chơi thử). Các trò chơi cần phong phú, đa dạng để tránh nhàm chán.

  • Chú ý

          Chú ý của HSTH chủ yếu vẫn là chú ý không chủ định. HSTH, đặc biệt là HS lớp 1 thường chỉ chú ý đến những cái mà các em thấy thích thú, nổi bật. Chú ý của các em không bền, thường các em chỉ tập trung trong khoảng 30 – 35 phút. Sự chú ý của HS còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như nhịp độ bài học, tính khó dễ của bài, môi trường xung quanh, ….

          Khi sử dụng trò chơi, GV cần chú ý không nên đưa những trò chơi có cách chơi phức tạp, thời gian chơi cũng không nên kéo dài.

  • Trí nhớ

          HS lớp 1 không xác định được mục đích, nội dung và cách thức để ghi nhớ. Do vậy, các em ghi nhớ theo ý thích của bản thân. Đối với HS lớp 1, ghi nhớ trực quan – hình tượng tốt hơn ghi nhớ từ ngữ − logic. Các em có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần.

          Trò chơi học tập là một hoạt động hấp dẫn và qua hoạt động này, HS sẽ ghi nhớ dễ dàng hơn, bền vững hơn nội dung của bài học

  • Tưởng tượng

          Tưởng tượng của HS lớp 1 còn tản mạn, ít có tổ chức. Các hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững, gắn liền với những hình ảnh sự vật cụ thể, chưa có tính sáng tạo.

          Khi tổ chức trò chơi, GV cần chú ý lồng ghép những kiến thức cần hình thành hoặc ôn tập vào những tình huống thú vị, gắn liền với cuộc sống của trẻ để trẻ dễ dàng tưởng tượng ra.

  • Tư duy

          Tư duy của HS lớp 1 là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng, hiện tượng cụ thể. Do vậy, GV cần dựa vào những đặc điểm này để lựa chọn, xây dựng trò chơi phù hợp và chuẩn bị tranh ảnh trực quan kích thích tư duy cho HS.(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

  • Ngôn ngữ

          Ngôn ngữ của HS được hình thành thông qua giao tiếp và hoạt động. Ngôn ngữ của HS lớp 1 còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ngôn ngữ viết. Do đó, khi tổ chức trò chơi, GV nên tổ chức cho HS chơi nhóm để tăng cường giao lưu giữa các HS và chú ý tạo cơ hội để HS phát triển ngôn ngữ viết.

XEM THÊM ==> DOWNLOAD 999+ TIỂU LUẬN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

  1. Đặc điểm nhân cách
    • Tính cách

          Hành vi của HS lớp 1 thường mang tính tự phát. Các em rất cả tin, hồn nhiên trong mỗi quan hệ với thầy cô và bạn bè. Các em nghĩ mọi chuyện rất đơn giản. Đặc biệt, các em có tính bắt chước người khác và bắt chước rất nhanh.

          Chính vì vậy, khi lựa chọn trò chơi, GV phải xây dựng luật chơi cụ thể, dễ hiểu, thưởng phạt rõ ràng, tạo ra một sân chơi công bằng; lành mạnh.

  • Nhu cầu

          Lớp 1 là lớp chuyển giao giữa mẫu giáo và tiểu học. Do vậy, HS lớp 1 vẫn còn nhiều đặc điểm của lứa tuổi mẫu giáo – nhu cầu thích vui chơi cao. Để cuốn HS vào hoạt động học tập một cách tự nhiên, hiệu quả, GV cần sử dụng các trò chơi phù hợp. Như vậy, HS vừa được chơi vừa được học.

  • Tình cảm

          HS lớp 1 giàu cảm xúc, khả năng kiềm chế tình cảm chưa cao, tình cảm dễ nảy sinh nhưng không bền vững. Các em dễ dàng nảy sinh tình cảm với những cái mới lạ, tạm quên hoặc quên hẳn những cái cũ.

          Trò chơi học tập sẽ có tác dụng làm đời sống tình cảm của HS lớp 1 phong phú hơn, khả năng kiềm chế tình cảm tốt hơn.

  • Ý chí và hành động ý chí

          Ý chí của HSTH nói chung và HS lớp 1 nói riêng chịu sự chi phối của tình cảm. tình cảm có thể thúc đấy hoặc kìm hãm ý chí. Các em ít khi tự mình giải quyết được nhiệm vụ mà thường phải có sự trợ giúp của người khác. Tính bột phát và ngẫu nhiên trong hành động của các em còn nhiều.

          Khi chơi trò chơi, các em sẽ được rèn luyện tính kiên trì độc lập và tự chủ để đi đến chiến thắng cuối cùng. Đây là động cơ thúc đẩy các em trog học tập.

III.             LÍ LUẬN VỀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP

  1. Trò chơi
    • Nguồn gốc

          Trò chơi có nguồn gốc từ lao động và chuẩn bị cho thế hệ trẻ đến với lao động. Trò chơi mang bản chất xã hội, nội dung chơi của trẻ phản ánh cuộc sống hiện thực xung quanh. Trò chơi không nảy sinh một cách tự phát mà do ảnh hưởng có ý thức hoặc không có ý thức từ phía người lớn và bạn bè,, giao tiếp xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trò chơi.(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

  • Đặc điểm

          Chơi là một hoạt động. Ngoài những đặc điểm giống với các hoạt động khác như có phương hướng, có mục đích, có sự tham gia tích cực của cả nhân cách thì nó còn có những đặc điểm chuyên biệt sau:

  • Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ngay trong bản thân hành động chơi. Trong trò chơi, trẻ không bị ảnh hưởng bởi nhu cầu thực tiễn mà xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ.
  • Trò chơi là hoạt động tự lập của trẻ và mang tính tự do, tự nguyện. tính tự do, tự nguyện ở các trò chơi khác nhau sẽ có những biểu hiện khác nhau.
  • Trong trò chơi, trẻ em luôn có những sáng kiến và đó chính là sự hiện diện của mầm mống sáng tạo.
  • Trò chơi luôn mang lại sự thoả mãn và niềm vui cho người chơi.
    • Phân loại

          Trò chơi rất phong phú, đa dạng. Mỗi một loại trò chơi có tác động đến sự phát triển trí tuệ của trẻ khác nhau. Người ta đã chia trò chơi thành các loại chủ yếu sau:

  • Trò chơi với đồ vật (trò chơi xây dựng)

          Trẻ thường chơi với những vật đơn giản như cát, các hình khối, các mảnh gỗ, nhựa, …. hoặc với những đồ chơi chuyển động như tàu hoả, ô tô.

  • Trò chơi theo chủ đề

          Trò chơi theo chủ đề rất đa dạng. Trong các chủ đề về cuộc sống muôn hình muôn vẻ thì các sự kiện xã hội chiếm một vị trí quan trọng. Các trò chơi theo chủ đề bao gồm: trò chơi sắm vai, trò chơi đạo diễn, trò chơi đóng kịch.

  • Trò chơi vận động

          Đây là loại trò chơi có sự vận động cơ bắp. Trò chơi này được trẻ em mọi lứa tuổi yêu thích. Các trò chơi vận động cũng có nội dung trí tuệ phong phú, đòi hỏi ở người chơi sự chú ý, nhanh nhẹn, phản ứng mau lẹ, linh hoạt. Đặc biệt, do trò chơi vận động có sự phối hợp một cách tự nhiên của nhiều thao tác khác nhau nên nó ảnh hưởng khá tốt tới sự phát triển cả thể chất lân trí tuệ của trẻ.

  • Trò chơi trí tuệ

          Đây là trò chơi dựa trên cơ sở hoạt động sáng tạo của trẻ. Nội dung của các trò chơi này thường là sự thi đấu về một hoạt động trí tuệ nào đó như: sự chú ý, sự nhanh trí, sự ghi nhớ, tưởng tượng, tư duy, sáng tạo, …. Trò chơi trí tuệ sẽ giúp trẻ hoàn thiện các năng lực trên, phát triển tình tự lập, tinh thần hoạt động tập thể, tính kỉ luật, đồng đội, …

  • Trò chơi học tập

          Đây là một loại trò chơi gắn liền với hoạt động học tập. Loại trò chơi này sẽ được trình bày cụ thể trong phần sau.

  • Ý nghĩa

          Trò chơi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với trẻ. Nó vừa thoả mãn nhu cầu được chơi, được giải trí của trẻ vừa góp phần phát triển các chức năng tâm lí và hình thành nhân cách cho trẻ.

          Khi được tổ chức đúng cách, hợp lí, trò chơi sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ. Thông qua hoạt động chơi, nhiều kĩ năng cần thiết cho trẻ được hình thành và rèn luyện. Đó là kĩ năng giải quyết vấn đề độc lập, tự giác. Với những trò chơi tập thể, đó là kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng lắng nghe, tiếp thu ý kiến của người khác. Thông qua những trò chơi này, tính kỉ luật, tính mục đích cũng được hình thành. Tình cảm,, ngôn ngữ của HS cũng được phát triển.

          Như vậy, có thể thấy trò chơi là một hoạt động rất bổ ích, có tác dụng phát triển HS toàn diện. Do vậy, chúng ta cần áp dụng phương thức “học mà chơi, chơi mà học” trong giáo dục trẻ em.(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

  1. Trò chơi học tập
    • Khái niệm

          Khái niệm trò chơi học tập được đưa ra như sau:

          Trò chơi học tập là trò chơi có luật và nội dung cho trước, là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính xác hoá, hệ thống hoá các biểu tượng đã có, nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết cho trẻ − trong đó có nội dung học tập được kết hợp với hình thức chơi.

  • Đặc điểm

          Trò chơi học tập thuộc nhóm trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ con chơi và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học, hướng tới phát triển trí tuệ cho trẻ.

          Trò chơi học tập khác với các loại trò chơi khác ở chỗ: nhiệm vụ nhận thức và luật chơi trong trò chơi học tập đòi hỏi trẻ phải huy động trí óc làm việc thực sự nhưng lại được thực hiện dưới hình thức chơi thú vị, vui vẻ. Trò chơi học tập là trò chơi có luật chơi cố định.

          Trên thực tế, có nhiều GV nhầm lẫn giữa trò chơi học tập và các bài tập được tổ chức dưới dạng trò chơi (ai làm nhanh nhất, ai làm đúng nhất). Chúng tôi xin đưa ra bảng so sánh bài tập và trò chơi học tập:

Tiêu chí Bài tập Trò chơi học tập
1.     Động cơ – Động cơ của hoạt động giải bài tập nằm ở kết quả của hoạt động – nhận thức đúng. Động cơ này xuất phát từ nhu cầu nhận thức. – Động cơ của hoạt động chơi nằm ở ngay bản thân hành động chơi.
2.     Nhiệm vụ nhận thức – Nhiệm vụ nhận thức được đưa ra trực tiếp, cụ thể, rõ ràng thông qua yêu cầu của bài tập. Việc giải quyết nhu cầu nhận thức chính là mục tiêu của hoạt động. – Nhiệm vụ nhận thức không được đưa ra trực tiếp mà nằm trong nhiệm vụ chơi, trong luật chơi và hành động chơi. Việc giải quyết nhiệm vụ nhận thức chỉ là cách thức, con đường đi đến đích cuối cùng là “thắng” chứ không phải là mục tiêu của hoạt động.
3.     Đặc điểm, tính chất của hoạt động – Là hoạt động bắt buộc, HS không muốn cũng phải thực hiện.

– Hành động giải bài tập diễn ra độc lập ở mỗi HS, không chịu chi phối bởi mong muốn của người khác.

– Là hoạt động độc lập của trẻ, mang tính tự do, tự nguyện.

– Trẻ hành động theo thứ tự, theo lượt phù hợp với luật chơi, biết tính đến mong muốn của người khác.

4.     Kết quả – So sánh kết quả với đáp án để xác định “đúng sai”. (không có yếu tố thi đua) – So sánh các kết quả với nhau để xác định “thắng thua”. (có yếu tố thi đua)

(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

  • Cấu trúc
  • Nhiệm vụ nhận thức

Đây chính là nội dung chơi có tính chất như một bài toán mà học sinh phải giải dựa trên các điều kiện đã cho. Nhiệm vụ nhận thức là thành phần cơ bản của trò chơi học tập. Nó khêu gợi hứng thú của HS, kích thích tính tích cực và nguyện vọng chơi của các em. Mỗi một trò chơi học tập có nhiệm vụ nhận thức của mình, chính điều đó làm cho trò chơi này khác trò chơi khác.

  • Hành động chơi

Các hành động chơi là thành phần chính của trò chơi học tập, thiếu chúng thì không còn là trò chơi nữa. Các hành động chơi như là họa tiết của chủ đề chơi. Những hành động ấy càng nhiều bao nhiêu thì bản thân trò chơi càng lí thú bấy nhiêu.

  • Luật chơi

Luật chơi là những quy định sẵn có mà nhất thiết người chơi phải tuân thủ trong khi chơi. Luật chơi quyết định trò chơi và nếu phá vỡ chúng thì trò chơi học tập cũng bị phá vỡ theo.

Mỗi trò chơi học tập có luật chơi riêng, do nội dung chơi quy định. Các luật chơi đã tạo nên cơ chế tự điều khiển hành vi của của HS và nhờ luật chơi, GV có thể điều khiển được hành vi của HS trong khi chơi.

Trong trò chơi học tập, luật chơi rất đa dạng. Đó có thể là:

– Quy định về hành động chơi và thứ tự các hành động chơi.

– Điều khiển quan hệ giữa các bạn chơi.

– Giới hạn hoặc cấm một số biểu hiện hành động hoặc nêu các hình thức phạt khi vi phạm luật chơi.

  • Kết quả:

Trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định. Đó là lúc kết thúc trò chơi, người học giải quyết thành công một nhiệm vụ nhận thức nào đó mà trò chơi yêu cầu. Kết quả của trò chơi thường thoả mãn nhu cầu nhận thức cũng như nhu cầu chơi của HS.

  • Vai trò của trò chơi đối với sự phát triển trí tuệ của HS

          Học trong quá trình vui chơi là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn kinh nghiệm xã hội nhẹ nhàng, tự nhiên, không bị gò bó, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí ở HS. Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh ở các em, giữ được nét hồn nhiên trẻ thơ.(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

          Trong quá trình chơi, để thực hiện chức năng của hoạt động chơi, giải quyết nhiệm vụ chơi, HS phải sử dụng các giác quan để tiếp nhận thông tin ngôn ngữ, phải tự phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại và khái quát hoá, tuỳ theo nhiệm vụ nhận thức của trò chơi, làm cho các giác quan của trẻ tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn, tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh, các thao tác trí tuệ được hình thành. Qua trò chơi học tập, HS lĩnh hội, tiếp thu và khắc sâu được nhiều tri thức, nhiều khái niệm và hình thành được những biểu tượng rõ rệt về các sự vật, hiện tượng xung quanh. Trên cơ sở đó, các phẩm chất trí tuệ của các em được hình thành như: sự nhanh trí, tính linh hoạt, sáng tạo, tính kiên trì, …

          Trò chơi học tập còn là phương tiện rất tốt để khắc phục những mặt khó khăn trong quá trình tư duy của HS. Trong quá trình chơi, HS bộc lộ những sai lầm trong những tình huống mới, GV hoặc bạn bè trong nhóm sẽ phát hiện và giúp đỡ các em giải quyết các tình huống đó. Qua đó, các em sẽ tích luỹ được kinh nghiệm, kịp thời sửa chữa sai sót trong tư duy.

          Trò chơi học tập có ảnh hưởng sâu sắc tới việc giáo dục đạo đức cho HS. Nó góp phần giáo dục cho các em tính thật thà, tính tổ chức, tính tự lực, tính đoàn kết, …

          Trò chơi học tập được coi là một phương tiện quan trọng trong quá trình dạy học tiểu học nói chung và dạy học lớp 1 nói riêng bởi những lí do sau:

  • Trò chơi học tập giúp HS lĩnh hội tri thức và các kĩ năng khác nhau mà không có chủ định từ trước.
  • Ở trò chơi học tập có sự tự nguyện và bình đẳng giữa các HS. Mọi HS đều có vị trí, nhiệm vụ như nhau khi tham gia trò chơi.
  • Ở trò chơi học tập, HS cảm nhận được một cách trực tiếp kết quả hành động của mình: đúng – sai, phát hiện ra cái mới, … Kết quả này có ý nghĩa to lớn với các em, nó mang lại niềm vui vô hạn, thúc đẩy tính tích cực, củng cố và mở rộng vốn hiểu biết của các em.
    • Phân loại

Xét theo phương diện phát triển các chức năng tâm lí của HS, trò chơi học tập được chia thành các loại sau:

  • Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan

Đây là trò chơi nhằm phát triển các hành động nhạy cảm ở HS như sự tinh nhạy của đôi mắt, sự tinh nhạy của đôi tai, ….

  • Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy

Những trò chơi này giúp HS nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quá về sự vật, hiện tượng theo một dấu hiệu bề ngoài. Trong quá trình phân loại, trẻ phát hiện những dấu hiệu giống nhau, những dấu hiệu khác nhau để đi đến sự sắp xếp của sự vật, hiện tượng theo những dấu hiệu chung. Như vậy, khả năng khái quát của trẻ được hình thành và phát triển.

  • Trò chơi học tập nhằm phát triển óc tưởng tượng

Đây là loại trò chơi mà HS sử dụng vốn sống, những biểu tượng đã có ở trong đầu để thực hiện các thao tác chơi, nội dung chơi. Nhờ óc tưởng tượng, các em thực hiện được thao tác chơi, nội dung chơi và nhập vai thực sự vào cuộc chơi.

  • Trò chơi học tập nhằm phát triển trí nhớ

Đây là loại trò chơi rèn luyện và phát triển trí nhớ của HS về những tri thức, khái niệm, biểu tượng mà các em đã lĩnh hội trước đó.

  • Trò chơi học tập giúp cho sự phát triển chú ý, ngôn ngữ của HS.

          Sự phân loại này chỉ mang tính chất tương đối, giúp chúng ta nhận ra ý nghĩa, mục đích của trò chơi với sự phát triên trí tuệ của HS. Trên thực tế, nhiều trò chơi mang ý nghĩa tổng hợp. Nó vừa có ý nghĩa phát triển các giác quan vừa có ý nghĩa đối vợi sự phát triển các thao tác trí tuệ, ….. (Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

CHƯƠNG II: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC TRÒ CHƠI DẠY HỌC HỌC VẦN

I.                   THIẾT KẾ TRÒ CHƠI DẠY HỌC HỌC VẦN

  1. Hệ thống trò chơi dạy âm mới
    • Xếp hạt tạo chữ cái
  • Mục đích:

            Giúp HS:

            – Củng cố và rèn luyện khả năng nhận diện các chữ cái.

            – Phát triển trí tưởng tượng cho trẻ.

            – Luyện khả năng khéo léo, tính thẩm mĩ cho trẻ.

  • Chuẩn bị:

            – Chuẩn bị số hạt dưa (hoặc hạt na, hạt bưởi, cúc áo hoặc que diêm) cho HS.

            – Hạt xếp mẫu cho GV.

  • Cách tiến hành:

            – GV phát cho HS mỗi HS số hạt đã chuẩn bị.

            – GV yêu cầu HS quan sát cô xếp mẫu chữ cái. GV vừa xếp vừa hướng dẫn trẻ xếp thứ tự các nét chữ, xếp từ trên xuống, từ trái qua phải.

            – Sau khi xem mẫu, GV yêu cầu HS xếp. Trong khi HS xếp, GV đi lại, quan sát, nếu có HS không xếp được thì GV có thể giúp đỡ bằng cách yêu cầu HS đó vẽ chữ cái đó trước, rồi xếp theo chữ vừa vẽ.(Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

            – HS nào xếp nhanh và đẹp nhất sẽ được GV khen thưởng.

VD: Chữ a, ă, â:

  • Lưu ý:

            – Thời điểm sử dụng: Sau khi hướng dẫn viết bảng con tiết 1 hoặc trong thời gian củng cố tiết 2.

            – GV cũng có thể sử dụng đất nặn để HS nặn thành các chữ cái.

  • Ghép chữ
  • Mục đích:

            Giúp HS:

            – Củng cố và rèn luyện khả năng nhận diện các chữ cái.

            – Phát triển trí nhớ cho trẻ.

  • Chuẩn bị:

            – Chuẩn bị các mảnh ghép chữ cái bằng xốp hoặc bìa cứng, có gắn nam châm.

            – Chữ cái đáp án.

  • Cách tiến hành:

            – GV chia lớp thành các nhóm nhỏ. Chữ cái được chia thành bao nhiêu miếng thì mỗi nhóm sẽ có bấy nhiêu thành viên.

            – GV phổ biến luật chơi: Cô có một số mảnh ghép bằng xốp. Nhiệm vụ của các nhóm là ghép các mảnh đó thành một chữ cái. Mỗi bạn chỉ có một lượt chạy lên ghép. Nhóm nào ghép đúng và nhanh nhất sẽ là đội thắng cuộc. Thời gian cho các nhóm là 5 phút.

            – HS tiến hành chơi.

            – GV và HS cùng kiểm tra kết quả, khen thưởng đội thắng cuộc.

  • Lưu ý:

            – Thời điểm sử dụng: Trong thời gian củng cố tiết 2.

  1. Hệ thống trò chơi ôn tập âm
    • Tinh mắt tìm chữ
  • Mục đích:

          Giúp HS:

– Củng cố, ghi nhớ và nhận diện đúng, nhanh các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt.

– Ghi nhớ thứ tự các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt.

– Rèn luyện sự nhanh nhẹn, tinh mắt.

  • Chuẩn bị:

– GV chuẩn bị cho mỗi cặp chơi một tờ giấy, trong đó ghi lộn xộn các chữ cái không theo một chiều nhất định.

– Chia lớp học thành các cặp chơi.

– Mỗi cặp chơi tự chuẩn bị hai chiếc bút màu khác nhau.

  • Cách tiến hành:

– Hai người trong cặp chơi sẽ tìm những chữ cái theo thứ tự trong bảng chữ cái. Đầu tiên cả hai sẽ cùng tìm chữ “a”, ai tìm được trước người đó sẽ dùng bút màu của mình khoanh lại, sau đó lại tìm chữ cái “b” và cứ tiếp tục như vậy cho đến chữ cái cuối cùng trong bảng chữ cái tiếng Việt là chữ “y”. Hết thời gian quy định, hai người sẽ cùng đếm số chữ cái mà mình đã khoanh được, ai tìm được nhiều hơn, người đó là người thắng cuộc. (Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

  • Lưu ý:

– Thời điểm sử dụng: Trong thời gian củng cố tiết 2 bài 28.

  • Bé làm hoạ sĩ
  • Mục đích:

            Giúp HS:

          – Rèn luyện khả năng nhận diện, phân biệt các chữ cái.

          – Rèn luyện kĩ năng tô màu.

  • Chuẩn bị:

            – Chuẩn bị một bức tranh chưa tô màu khổ to, trong đó có đánh dấu các màu cần tô cho mỗi phần của bức tranh bằng một chữ cái tương ứng.

VD: Tranh cho bài 11: Ôn tập        

            – Phô tô cho mỗi HS một bức tranh chưa tô màu khổ bé.

            – HS chuẩn bị bút màu.

  • Cách tiến hành:

            – GV phát cho HS một tờ giấy phô tô bức tranh chưa tô màu khổ bé.

            – GV phổ biến luật chơi: Bức tranh trên vẫn chưa được tô màu. Các con hãy tô màu cho bức tranh trên bằng cách dùng bút màu để tô màu bức tranh theo hướng dẫn:

+ Tô màu vàng vào những phần có chữ o.

+ Tô màu đỏ vào những phần có chữ c.

+ Tô màu đen vào những phần có chữ ơ.

+ Tô màu hồng vào những phần có chữ ô.

            – Mỗi HS tô trong khoảng 7 phút. Sau 7 phút các em sẽ đổi bài để chấm lẫn nhau. GV sẽ treo bức tranh đã tô màu khổ to lên bảng. HS nhìn và đối chiếu với tranh của bạn, chấm điểm theo quy định của GV, cứ tô đúng một phần sẽ được một điểm. Tô đẹp được 1 điểm.

            – GV kiểm tra lại kết quả chấm bài của HS. Tuyên dương những HS được điểm cao.

  • Lưu ý:

– Thời điểm sử dụng: Trong thời gian củng cố cuối tiết 2.

  • Bàn cờ chữ cái
  • Mục đích:

            Giúp HS:

            – Nhằm cũng cố nhận biết chữ cái và khả năng ghi nhớ mặt chữ.

            – Kích thích sự hứng thú của trẻ.

  • Chuẩn bị:

            – Bàn cờ ghi các chữ cái cần ôn (khoảng 4 chữ cái).

            – 1 quân xúc xắc là một khối vuông: 1cm x 1cm mỗi mặt ghi 1 chữ cái ứng với các chữ cái ghi trên bàn cờ.

            – 1 ống (hoặc ca, cốc con) để lắc quân xúc xắc và hạt làm quân đi.

  • Cách tiến hành:

            – 4 HS chơi trên một bàn cờ. Trước khi chơi cho các HS “oẳn tù tì”, HS nào thắng sẽ được đổ quân xúc xắc trước. HS cho quân vào ống (ca, cốc) lắc nhiều lần rồi đổ ra, mặt trên của quân xúc xắc có chữ cái nào ứng với chữ cái ghi trên bàn cờ thì HS được lấy 1 hạt đặt vào ô ghi chữ cái đó trên bàn cờ. Rồi tiếp tục các HS bên cạnh đi tiếp (theo chiều kim đống hồ).

            – Trong quá trình chơi, nếu HS nào đổ quân xúc xắc có chữ cái trùng với chữ cái đã có quân đi rồi thì coi như mất lượt đi. HS nào có quân xếp kín các ô trên bàn cờ, HS đó thắng cuộc.

  • Lưu ý:

– Thời điểm sử dụng: Trong thời gian củng cố cuối tiết 2.

  • Giải ô chữ
  • Mục đích:

            Giúp HS:

– Huy động, ôn tập và  mở rộng vốn từ tiếng Việt của mình.

– Rèn luyện trí thông minh và phản xạ nhanh.

  • Chuẩn bị:

– GV chuẩn bị một ô chữ khổ to để trình chiếu hoặc treo lên bảng và các câu hỏi gợi ý để giải ô chữ.

  • Cách tiến hành:

– Trò chơi này có thể tiến hành chung cả lớp hoặc chia lớp học thành nhiều  nhóm để các nhóm thi đua với nhau, tùy theo số lượng HS trong lớp mà GV có thể tổ chức cho phù hợp.

– GV nêu câu hỏi gợi ý để HS giải từng ô chữ hàng ngang theo thứ tự từ trên xuống. HS nào hoặc nhóm nào giải được trước sẽ ghi điểm (giải mỗi ô chữ hàng ngang được 10 điểm, giải ô chữ hàng dọc được 30 điểm). Kết thúc trò chơi, ai hoặc nhóm nào ghi được  nhiều điểm, nhóm đó sẽ thắng.

  • Lưu ý:

– Trò chơi này có thể được tổ chức dưới hình thức khác theo từng cặp: một người giải thích nghĩa của từng từ, một người đoán từ. Trong một thời gian nhất định, cặp nào giải được nhiều ô chữ, đội đó thắng.

– Thời điểm sử dụng: Trong tiết 2, khi luyện đọc. GV tổ chức giải ô chữ rồi lấy ngữ liệu của trò chơi để luyện đọc hoặc trong thời gian củng cố cuối bài.

xây dựng trò chơi học vần cho học sinh lớp 1
xây dựng trò chơi học vần cho học sinh lớp 1

– Trò chơi này có thể sử dụng cho nhiều loại bài khác nữa. (Tiểu luận: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1)

  • Cướp cờ
  • Mục đích:

            Giúp HS:

– Luyện khả năng nhận biết nhanh các chữ cái đã học

– Rèn luyện khả năng nhanh nhẹn, tính kỷ luật.

  • Chuẩn bị:

– 5 − 6 lá cờ, các lá cờ có gắn chữ cái (các chữ không trùng nhau).
– 1 ống cắm cờ

  • Cách tiến hành:

– Chơi cả lớp ở ngoài sân. Chia làm hai đội (số người bằng nhau).

– GVvẽ 1 vòng tròn có đường kính là 30cm, đặt ống cắm cờ vào giữa vòng tròn và cắm các lá cờ có gắn chữ cái (lá cờ phải được cắm thẳng để trẻ nhìn rõ mặt chữ). Từ vòng tròn đặt ống cắm cờ khoảng 3 − 4m ở hai đầu sân GV kẻ một vạch mốc.

– GV cho HS của hai đội lên đứng ở vạch mốc, quay mặt về phía ống cắm cờ. Khi nghe hiệu lệnh của GV: Chuẩn bị: “Cướp cờ chữ Ơ”. Hai HS chạy nhanh tới lấy cờ có chữ Ơ. HS nào lấy đúng cờ chữ ơ và chạy nhanh về đội của mình là thắng cuộc (khi lấy cờ không được chạm người vào nhau).

            – GV lại gọi tiếp hai HS khác lên cướp cờ. Chơi cho đến hết cờ cắm ở ống. Đội nào lấy được nhiều cờ và đúng chữ là thắng cuộc.

  • Lưu ý:

            – Thời điểm sử dụng: Trong tiết 2.

– Trò chơi này có thể sử dụng cho nhiều loại bài khác nữa.


Trên đây là tiểu luận môn Sáng kiến kinh nghiệm đề tài: Xây dựng trò chơi Học vần cho học sinh lớp 1 dành cho các bạn đanXây dựng trò chơi g làm tiểu luận môn học Sáng kiến kinh nghiệm: còn nhiều bài mẫu tiểu luận môn học các bạn tìm kiếm trên chuyên mục nhé. 

Lưu ý: Có thể trên website không có tài liệu đúng như các bạn mong muốn để hoàn thiện bài làm hoàn toàn mới và chất lượng tốt các bạn có thể cần tới sự hỗ trợ của dịch vụ viết tiểu luận để kham khảo bảng giá và quy trình làm việc các bạn có thể trao đổi với mình qua SDT/Zalo: https://zalo.me/0932091562

DOWNLOAD FILE